Huyết tương giàu tiểu cầu trong điều trị bệnh lý cơ xương khớp

Huyết tương giàu tiểu cầu (Platelet-Rich Plasma) là gì?

Tiểu cầu (Platelet) là một trong những yếu tố có trong dòng máu và ở dạng bất hoạt.  Tiểu cầu có đường kính khoảng 2 μm, và là loại nhỏ nhất trong tất cả các tế bào máu. Nhưng khi được kích hoạt bởi vết thương hoặc tổn thương của các mô, tiểu cầu thực hiện các chức năng đông máu và chữa lành vết thương. Phương pháp tối đa hóa những khả năng  của tiểu cầu bằng cách làm giàu tiểu cầu ở nồng cao và áp dụng nó vào điều trị là gọi là  liệu pháp Huyết tương Giàu Tiểu cầu – PRP – Platelet Rich Plasma.

Vì có rất nhiều yếu tố tăng trưởng trong tiểu cầu, nên PRP có thể được sử dụng cho  các loại phương pháp điều trị bằng cách kích hoạt sự tăng sinh tế bào, sản xuất collagen, sản xuất axit hyaluronic, tăng trưởng tế bào biểu bì, sự hình thành mạch.

Khái niệm và mô tả về PRP bắt đầu trong lĩnh vực huyết học. Các nhà huyết học đề xuất thuật ngữ PRP vào những năm 1970 để mô tả huyết tương với số lượng tiểu cầu cao hơn máu ngoại vi ban đầu được sử dụng như một sản phẩm truyền máu để điều trị bệnh nhân bị giảm tiểu cầu.

Mười năm sau, PRP bắt đầu được sử dụng trong phẫu thuật maxillofacial với tên gọi là PRF (Plasma rich Fibrin). Fibrin có tính chất bám dính và các đặc tính cân bằng nội môi, và PRP với các đặc tính chống viêm và kích thích tăng sinh tế bào.

Sau đó, PRP đã được sử dụng chủ yếu trong lĩnh vực cơ xương khớp trong chấn thương thể thao. Với việc ứng dụng PRP trong điều trị chấn thương thể thao chuyên nghiệp đã thu hút sự chú ý rộng rãi trên các phương tiện truyền thông và đã được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực này. Các lĩnh vực y tế khác cũng sử dụng PRP có thể kể đến như phẫu thuật tim, phẫu thuật nhi khoa, phụ khoa, tiết niệu, phẫu thuật thẩm mỹ và nhãn khoa (Andia & Abate, 2013).

Gần đây, sự quan tâm ứng dụng PRP trong da liễu; tức là, trong tái tạo mô, chữa lành vết thương, chỉnh sửa sẹo, tác dụng trẻ hóa da và rụng tóc, đã tăng lên đáng kể (Andia & Abate, 2013; Cobos et al., 2015; Kim et al., 2011; Picard et al., 2015; Salazar Alvarez et al., 2014; Sclafani & Azzi, 2015; Sclafani & McCormick, 2012; Sommeling et al., 2013).

Các nhân tố tăng tưởng chính có trong tiểu cầu

Nhân tố tăng trưởng Tác dụng
Transforming Growth Factor beta (TGF-β) Kích thích tế bào trung mô chưa biệt hóa tăng sinh;  điều hòa sự tăng trưởng của nội mô, nguyên bào  sợi và nguyên bào xương; điều hòa tổng hợp  collagen và bài tiết collagenase; điều hoà tác dụng  lên sự phân bào của các yếu tố tăng trưởng; kích  thích hóa hướng động nội mô và sự tạo mạch; ức  chế đại thực bào và tế bào lympho phân chia
Basic Fibroblast Growth  Factor (bFGF) Thúc đẩy sự tăng trưởng và biệt hóa của tế bào sụn  và nguyên bào xương; sự phân chia các tế bào  trung mô, tế bào sụn và nguyên bào xương
Platelet Derived Growth  Factor (PDGFa-b) Tăng sinh các tế bào trung mô và nguyên bào  xương; kích thích hóa hướng động và phân chia  nguyên bào sợi / tế bào thần kinh đệm / tế bào cơ  trơn; điều hòa collagenase

bài tiết và tổng hợp collagen; kích thích đại thực  bào và hóa hướng động bạch cầu trung tính

Epidermal Growth Factor  (EGF) Kích thích hóa hướng động nội mô/tạo mạch; điều  hòa bài tiết collagenase; kích thích biểu mô/trung  mô tăng sinh
Vascular Endothelial Growth  Factor (VEGF) Tăng sự hình thành mạch và tính thấm của mạch,  điều hòa sự phân chia tế bào nội mô
Connective Tissue Growth  Factor (CTGF) Thúc đẩy sự hình thành mạch, tái tạo sụn, sợi hóa  và kết dính tiểu cầu

Vai trò của huyết tương giàu tiểu cầu trong điều trị bệnh lý cơ xương khớp

Cơ chế hoạt động của PRP trong điều trị tổn thương khớp

  1. Giảm viêm: Viêm có thể là nguyên nhân hoặc hậu quả của của các bệnh lý về cơ  xương khớp. Tác dụng giảm viêm từ PRP thể hiện rõ ở việc điều hòa vi môi trường viêm ở khớp, duy trì cân bằng nội mô bằng nhiều cơ chế khác nhau. Thứ nhất, các nhân tố tăng  trưởng như TGF-β, TNF-α, HGF từ tiểu cầu có thể ức chế con đường truyền tín hiệu nội  bào NF-Kβ, giảm sự biểu hiện các cytokine gây viêm. Thứ hai, sự tương tác giữa tiểu cầu  và bạch cầu trung tính thúc đẩy sự chuyển đổi leukotriene thành lopoxin-một loại protein  kháng viêm tiềm năng có khả năng ức chế hoạt động của bạch cầu và kích thích sự làm lành  vết thương.
  2. Thúc đẩy nhanh quá trình làm lành vết thương: Các nhân tố tăng trưởng bên trong  tiểu cầu thực hiện vai trò này với nhiều cách khác nhau (Knop et al., 2016). Nghiên cứu của M.I. Kennedy (2018) cho thấy rằng PRP có thể làm giảm lượng Nitric oxid (NO) – một  chất gây ức chế sự tổng hợp collagen ở sụn khớp, cảm ứng sự chết theo chu trình (apoptosis)  của những tế bào sụn và tăng sự tổng hợp protein phân giải chất nền ngoại bào  (MMPs)(Kennedy et al., 2018). Bên cạnh đó, thành phần VEGF từ PRP góp phần tham gia  vào sự hình thành mạch máu mới thúc đẩy sự làm lành vết thương nhanh chóng. Các nhân  tố như TGF-β, FGF-2, PDGF từ PRP đóng vai trò quan trọng trong việc huy động và hoạt  hóa sự tăng trưởng và biệt hóa của các tế bào tham gia vào quá trình sửa chữa mô như  nguyên bào sợi, đại thực bào, nguyên bào sụn tái tạo mô sụn và tế bào hoạt dịch kích thích  sản sinh hyaluronic acid – thành phần chính và quan trọng của dịch khớp (Dos Santos et  al., 2021).

Ứng dụng lâm sàng PRP trong điều trị tổn thương khớp

Ứng dụng PRP để tái tạo sụn và điều trị viêm khớp, lĩnh vực ngày càng được quan tâm  nhiều hơn trong thập kỷ qua. Một nghiên cứu thống kê lâm sàng (công bố 2019) từ 15 báo  cáo lâm sàng với tổng số bệnh nhân là 1.314 người đã tiến hành so sánh hiệu quả của việc  tiêm PRP và Hyaluronic Acid trên bệnh nhân thoái hoá khớp. Kết quả cho thấy, tiêm PRP  giúp giảm đau hiệu quả hơn so với tiêm HA ở bệnh nhân thoái hoá khớp sau 6 và 12 tháng  theo dõi, được đánh giá bằng thang điểm đau WOMAC; điểm đau VAS cho thấy sự khác biệt đáng kể sau 12 tháng. Hơn nữa, sự cải thiện chức năng tốt hơn đã được quan sát thấy  trong nhóm PRP, theo thang điểm số chức năng WOMAC ở 3, 6 và 12 tháng. Ngoài ra,  tiêm PRP không có tỷ lệ sự kiện bất lợi khác so với tiêm HA. Theo thống kê này, có 9/15  nghiên cứu sử dụng PRP đã hoạt hoá trước khi tiêm.

Các nghiên cứu lâm sàng khác bao gồm các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên hoặc  bán ngẫu nhiên đánh giá việc tiêm nội khớp (IA) các sản phẩm có nguồn gốc từ PRP; với  các can thiệp IA khác [như axit hyaluronic (HA), corticosteroid (CS), nước muối hoặc các  chất khác để điều trị viêm xương khớp (OA). Các kết luận chính luôn ủng hộ việc sử dụng  các sản phẩm PRP hơn các phương pháp điều trị IA khác (trong hầu hết các trường hợp là  HA), đặc biệt là về cải thiện cơn đau lên đến 12 tháng.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *